19 tháng 7, 2026

Mùa quả ngọt cuối cùng của mẹ

Nhà bố mẹ có một khu vườn nhỏ.

Mẹ bảo bố trồng cây dày một chút để cỏ khỏi mọc. Nhưng rồi theo năm tháng, khu vườn ấy trở thành một khu rừng nhỏ. Tầng cao nhất là những hàng cau thẳng tắp, vươn lên nền trời, tán lá xòe ra như những chiếc ô xanh che nắng. Thấp hơn là mít, bơ, xoài, chanh… chen nhau lớn. Dưới chân cây lại là giàn mướp, giàn ngà, luống rau theo mùa. Quanh năm, khu vườn đều có một thứ quả ngọt để chờ con cháu.

Quanh năm mẹ cứ hết trồng rồi lại chăm. Quả nhiều đến mức ăn chẳng xuể. Nhà dùng không hết, mẹ lại mang biếu hàng xóm một lượt. Những mùa trái rộ, sợ con về không còn quả tươi, mẹ lại tỉ mẩn ngâm rượu, nấu si rô, làm mứt, cất vào từng chiếc lọ thủy tinh. Mỗi lần gọi điện, mẹ đều cười: “Để lúc nào các con về còn có cái mà thưởng thức”.

Mẹ cất cả nỗi nhớ của mình vào đó.

Lần cuối mẹ rời nhà đi Hà Nội chữa bệnh, mấy cây mít trong vườn đang lúc lỉu quả. Mẹ vẫn nghĩ mình chỉ đi vài hôm rồi lại về. Mẹ chẳng dặn cô Đà hàng xóm sang hái giúp, cũng chẳng bảo ai thu hoạch. Chuyến đi ấy, trong suy nghĩ của mẹ, chỉ là một quãng ngắn.

Nhưng mẹ đã không trở về và mẹ bắt đầu hành trình rất dài của riêng mẹ.

Ngày đưa mẹ về nhà, những quả mít đã chín vàng. Chúng rụng đầy dưới gốc, tỏa mùi thơm ngọt khắp khu vườn.

Sáng nay đã là tuần thứ tư trong thất tuần của mẹ.

Anh em hái được hai chục quả bơ già, xanh mướt, đặt lên mâm ngũ quả. Ngoài vườn, mấy quả mít muộn đã mẩy tròn, chắc chỉ sang tuần là chín tới. Những dây ngà vẫn mơn mởn ôm gọn những thân cau.

Cây vẫn đến mùa. Quả vẫn ngọt. Và rồi sẽ có những mùa quả khác tiếp nối.

Nhưng sẽ không bao giờ còn mùa quả ngọt của mẹ nữa.






Mới tháng trước

Mới tháng trước thôi, mỗi lần về quê, chúng tôi đều có một thói quen. Không ai báo trước cho mẹ. Chỉ khi xe còn cách nhà chừng mười cây số, đến đoạn Chợ Trâu quen thuộc, mới gọi điện: "Mẹ ơi, con về đến Chợ Trâu rồi".

Chúng tôi cố tình làm thế. Không phải để tạo bất ngờ, mà để mẹ không kịp tất bật. Nếu biết từ sớm, mẹ sẽ lại đi chợ, mổ gà, nấu nướng đủ đầy như một bữa cỗ. Mâm cơm lúc nào cũng nhiều hơn số người ngồi quanh. Ăn chẳng hết, còn mẹ thì mệt. Chúng tôi chỉ muốn về nhà, bố mẹ có gì con ăn nấy. Nhưng với mẹ, mấy chục năm trước từ khi con bắt đầu đi xa, mỗi lần con về nhà như có hội.

Mới tháng trước thôi, mỗi chuyến xe ngược Hà Nội đều có một người ở quê thấp thỏm. Ước chừng xe sắp về nơi, thể nào điện thoại cũng reo: "Các con đi đến đâu rồi?", rồi dặn thêm một câu đã nghe không biết bao nhiêu lần: "Về đến nhà thì gọi cho mẹ nhé!".

Chỉ khi nghe đầu dây bên kia báo: "Con về đến nơi rồi mẹ ạ", mẹ mới thật sự yên lòng. Cứ như suốt cả quãng đường hơn trăm cây số ấy, mẹ cũng đi cùng chúng tôi, bằng sự thấp thỏm của mẹ.

Mới tháng trước thôi, lần nào lên Hà Nội tôi cũng dặn trước:

"Con không mang gì đâu mẹ nhé".

Thế mà đến lúc mở cốp xe, vẫn kín mít nào trứng gà, mớ rau, quả bí, mít, chuối... Toàn những thứ quê mùa mà ở Hà Nội chẳng thiếu để mua.

Nhưng mẹ luôn có đủ lý do.

"Cái này nhà trồng".

"Rau này cô Cừ mới cho"…

Tôi biết, những thứ mẹ gửi không phải vì Hà Nội không có. Mà vì trong từng mớ rau, từng cân gạo, mẹ muốn gửi theo một phần ngôi nhà. Nên lần nào cũng bảo không lấy, rồi lần nào cũng chở đầy.

Và cũng mới tháng trước thôi... Mỗi lần xe lăn bánh rời cổng, trước hiên nhà luôn có hai người đứng vẫy tay. Rồi chậm chạp đi ra tận đầu ngõ, đứng nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất hẳn sau khúc cua. Chúng tôi biết phía sau mình vẫn còn hai ánh mắt dõi theo rất lâu, lâu hơn cả lúc không còn nhìn thấy chiếc xe nữa.

Hôm nay về, mọi thứ vẫn như cũ.

Chỉ có một người không còn đứng ở đó.

Bố vẫn đưa các con ra tận thềm, vẫn giơ tay vẫy như bao lần. Nhưng bên cạnh bố chỉ còn khoảng trống. Mình bố đứng giữa khoảng sân từng có hai người.

Có những mất mát không nằm ở những điều lớn lao.

Nó nằm ở một cuộc điện thoại không còn reo đúng giờ.

Ở lời dặn "về đến nơi thì gọi cho mẹ" không còn ai nhắc nữa.

Ở cái cốp xe bỗng nhẹ đi.

Và ở mái hiên cũ, nơi từ nay chỉ còn một người đứng vẫy tay tiễn những đứa con đi xa.

Mới tháng trước thôi...

Vậy mà đã như thuộc về một không gian khác.

----

Chép lại bài thơ của ông bạn Lý Thành Tâm

MỒ CÔI

Hoàng hôn về trắng cánh đồng

Mẹ đi đâu giữa mênh mông cánh cò

Bâng khuâng con nhặt câu hò

Vịn vài giọt nắng lần dò về thăm

Tìm người trong cõi xa xăm

Dáng như xưa dẫu tháng năm chất chồng

Khổ đau đeo tấm lưng còng

Gieo neo bao sợi tóc bồng với mây

Vẫn còn đây! Vẫn còn đây!

Trầm trầm tiếng mẹ đong đầy yêu thương

Chiều tàn chầm chậm buông sương

Mồ côi con tựa giọt chuông sa chùa.



12 tháng 7, 2026

“Bảo tàng của mẹ”

Sáng nay, tôi pha cà phê vào chiếc ca sắt tráng men vừa tìm thấy trong “bảo tàng của mẹ”.

Đó là chiếc ca mẹ mua bằng tem phiếu từ mấy chục năm trước, mỗi anh em một cái. Bao năm rồi, nó nằm lặng lẽ trong góc tủ, cho đến khi mẹ đi xa, tôi mới có dịp cầm lại trên tay. Lớp men đã sứt vài chỗ, quai ca đã ngả màu theo thời gian, nhưng chỉ cần rót nước sôi vào, cả một quãng đời cũ như bừng thức.

Phải đến sau ngày mẹ mất, “bảo tàng của mẹ” mới được tôi mở ra và sắp xếp lại.

Ở đó có chiếc giường cưới ông bà sắm cho bố mẹ cách đây năm mươi tư năm. Bao năm không còn dùng đến, nó vẫn được mẹ cẩn thận xếp gọn trong kho, như thể chỉ cần một ngày nào đó sẽ lại có người mang ra.

Có chiếc chăn con công mẹ chuẩn bị từ rất lâu để dành làm chăn cưới cho tôi. Vậy mà giờ con trai tôi đã hai mươi sáu tuổi, chiếc chăn vẫn còn nguyên nếp gấp trong tủ.

Mỗi món đồ là một lát cắt của ký ức.

Đôi tôm sứ Bát Tràng tôi mua trong Bách hóa Tổng hợp Tràng Tiền vào lần đầu tiên được lên Hà Nội năm 1986 vẫn còn nguyên vẹn. Chuyến đi ấy không chỉ đem về một món đồ lưu niệm, mà còn mở ra trước mắt cậu bé năm nào một chân trời mới, gieo những ước mơ đầu tiên về thế giới rộng lớn bên ngoài làng quê.

Kia là những cuốn truyện ngắn, tiểu thuyết nổi tiếng. Hồi ấy, bố đã dành gần trọn tháng lương để mua cho hai anh em mỗi khi hiệu sách nhân dân huyện có đợt sách mới. Những trang sách ấy đã nuôi lớn tuổi thơ và dạy chúng tôi biết mơ, biết nghĩ.

Đây là chiếc máy xay cháo của cháu Tôm từ những ngày còn bế ngửa. Còn kia là chiếc áo lụa trắng ngà Hương mặc trong lễ ăn hỏi. Mẹ giặt sạch, treo ngay ngắn trong chiếc tủ áo của mình. Chiếc tủ mà mãi đến sau ngày mẹ mất, tôi mới  mở ra.

Còn nữa, chiếc ô tô đạp bằng chân của anh em Tôm Tép Trũi vẫn được bọc nilon để gọn gàng trên nóc bể nước; Bộ quân cờ tướng tiện bằng gỗ bà dạy Tôm đánh cờ từ hồi lên 10… Còn đây những siêu nhân GAO đời đầu, những món bất ly thân của các cháu ngày thơ bé…

Theo phong tục, đồ đạc của người đã khuất rồi sẽ phải bỏ đi. Nhưng đứng giữa “bảo tàng của mẹ”, tôi không biết phải bắt đầu từ đâu.

Bởi những gì còn lại đâu chỉ là vài món đồ cũ. Chúng đã lặng lẽ đi cùng gia đình qua biết bao dấu mốc của cuộc đời: ngày bố mẹ nên duyên, ngày con cái khôn lớn, ngày các cháu chào đời. Mỗi vết xước, mỗi nếp gấp đều cất giữ một phần ký ức.

Có lẽ “bảo tàng của mẹ” chỉ có ý nghĩa với cuộc đời anh em chúng tôi, nhưng tôi muốn được giữ thật lâu. Không phải để níu mẹ ở lại, mà để mỗi khi chạm vào một món đồ, tôi vẫn có cảm giác mẹ vừa mới đi đâu đó, rồi mẹ sẽ về và sẽ lại mỉm cười bước vào nhà như sau một phiên chợ huyện bán được hết nông sản trong vườn của mẹ.







5 tháng 7, 2026

Như vẫn đang chơi trò cút bắt ❤

 ️Mới đó mà đã sang tuần thứ hai trong bảy tuần thất. Chỉ ngần ấy ngày thôi, bằng đúng quãng thời gian mẹ nằm viện ở những ngày cuối đời. Vậy mà hai khoảng thời gian ấy lại khác nhau đến thế. Mười lăm ngày trong bệnh viện dài như vô tận, mỗi giờ mỗi phút đều nặng trĩu hy vọng và chờ đợi. Còn từ ngày mẹ đi, thời gian lại lặng lẽ lướt qua, nhanh đến mức con chưa kịp ngoảnh lại đã thêm một tuần.

Mẹ con mình dường như vẫn đang chơi một trò cút bắt của ngày thơ bé. Khi con ở Hà Nội, con vẫn hình dung mẹ đang ở quê, buổi sáng xách cần ra ao thả câu, rồi lại cặm cụi chăm những khóm hoa, luống rau, những cái cây mẹ nâng niu như những người bạn nhỏ. Rồi mẹ sẽ lại quay những thước phim để upload lên tài khoản Tiktok “Cụ bà thích câu cá” của mẹ. Mọi thứ vẫn nguyên vẹn như bao ngày trước.

Đến khi con trở về nhà, bước lên nhà trên, con lại ngỡ mẹ đang ở dưới bếp - “vương quốc” thân thuộc của mẹ. Nơi ấy lúc nào cũng thấp thoáng bóng dáng mẹ lúi húi nấu nướng, nhặt rau, nêm nếm, chuẩn bị những món ăn mà chỉ cần ngửi mùi thôi cũng biết là mẹ đang ở nhà.

Thế nên nhiều lúc con có cảm giác mẹ chỉ vừa khuất khỏi tầm mắt. Chỉ cần đi thêm vài bước, hoặc gọi khẽ một tiếng, mẹ sẽ lại mỉm cười đáp lời như bao lần trước.

Hóa ra, chia xa cũng giống một trò cút bắt. Người đi chỉ là trốn ở một nơi mà người ở lại chưa thể tìm đến. Còn ký ức thì cứ dẫn lối, để mỗi góc nhà, mỗi khoảng sân, mỗi nếp sinh hoạt quen thuộc đều thấp thoáng bóng hình mẹ.

Con biết rồi sẽ đến một ngày con sẽ quen với sự vắng mặt ấy. Nhưng hôm nay, ở tuần thất thứ hai của mẹ, con vẫn muốn được tin rằng mẹ chỉ đang tạm nấp ở một nơi rất gần.



Có những sự trùng hợp rất lạ

 Mẹ rời xa chúng con lúc 7 giờ 10 phút – đúng những con số trong ngày sinh của con (mùng 7/10). Ngày mẹ đi là ngày 23, trùng ngày sinh của em Ảnh. Năm 2026 có số 20 là ngày sinh của bố; có số 26 lại đúng bằng tuổi của cháu nội Tôm.

Có lẽ chỉ là những sự ngẫu nhiên. Nhưng với người ở lại, mỗi con số đều trở thành một sợi dây để nhớ về mẹ, để tin rằng mẹ vẫn đang nhắn gửi điều gì đó bằng cách rất riêng của mình.

Thầy lễ nói mẹ đã tự chọn tên hiệu cho mẹ là Từ Hoà.

Nam mô A Di Đà Phật.



2 tháng 7, 2026

Lời hẹn của hy vọng

Ở Trung tâm Ung bướu của một bệnh viện tuyến trung ương, người ta thường gặp những ánh mắt lo âu nhiều hơn những tiếng cười. Mỗi cánh cửa phòng bệnh mở ra đều mang theo những kết quả xét nghiệm, những phác đồ điều trị và đôi khi là những tiên lượng khiến người bệnh lặng đi rất lâu.

Trong căn phòng bệnh mẹ tôi đang nằm điều trị có hai người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi.

Một bác quê Vĩnh Yên vừa trải qua cuộc phẫu thuật cắt bỏ hai phần ba tuyến tụy. Bác sĩ nói thời gian phía trước không còn nhiều. Ông nhập viện để chuẩn bị truyền hóa chất nhưng sức khỏe vẫn chưa đủ điều kiện.

Người nằm giường bên cạnh đến từ Mộc Châu. Ông đi khám vì một căn bệnh khác, không ngờ lại phát hiện ung thư đại tràng ở giai đoạn muộn. Bác sĩ vừa thông báo cho về nhà chờ lịch mổ. Khi nào sắp xếp được, bệnh viện sẽ gọi.

Hai con người, hai quê hương cách nhau hàng trăm cây số, hai số phận chẳng hề quen biết, lại gặp nhau trong một nơi mà chẳng ai mong muốn đặt chân đến. Họ nằm cạnh nhau được hai ngày.

Hai ngày không dài, nhưng đủ để những câu chuyện đời nối tiếp nhau từ sáng đến tối. Họ kể về những câu trên núi, những câu chuyện dưới đồng bằng, về con cháu, về những chuyến đi đã qua. Có lẽ vì cùng tuổi già, cùng bệnh tật, cùng đứng trước những ngã rẽ khó lường của số phận nên dễ dàng chia sẻ.

Ngày hôm qua, bác quê Vĩnh Yên làm thủ tục ra viện điều trị ngoại trú để được thực hiện một số xét nghiệm nhanh hơn. Buổi chiều, trước khi chia tay, hai ông xin số điện thoại của nhau.

Khung cảnh ấy tưởng như rất bình thường. Nhưng rồi tôi nghe thấy một câu nói khiến lòng mình chợt nghẹn lại.

Ông lão quê Vĩnh Yên cười bảo:

– Lần tới tôi lên Mộc Châu sẽ ghé thăm ông nhé.

Rồi như sợ người bạn mới quen quên mất mình, ông nói thêm:

– Ông nhớ lưu tên tôi là “Thành ung thư” cho dễ nhớ. Kẻo sau này tôi gọi lại không biết ông nào!

Cả hai cùng cười.

Một tiếng cười nhẹ tênh giữa phòng bệnh ung bướu.

“Lần tới tôi lên Mộc Châu…”

Lời hẹn ấy giản dị đến mức ai cũng có thể nói. Nhưng trong hoàn cảnh của hai người đàn ông đang mang trong mình những căn bệnh hiểm nghèo, nó trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết. Bởi để hẹn gặp lại nhau, trước hết người ta phải tin rằng mình còn một ngày mai. Phải tin rằng cuộc điều trị sẽ tiếp tục. Phải tin rằng vẫn còn những chuyến đi chưa thực hiện, những cuộc gặp chưa diễn ra.

Hy vọng, hóa ra không phải là điều gì lớn lao.

Hy vọng có thể chỉ là việc lưu số điện thoại của một người bạn mới quen. Là lời dặn “nhớ nghe máy khi tôi gọi”. Là dự định một ngày nào đó sẽ lên thăm Mộc Châu.

Giữa nơi mà nhiều người đang phải đối diện với những giới hạn khắc nghiệt của số phận, hai ông lão đã vô tình trao cho nhau một món quà quý giá: một lý do để chờ đợi.

Và có lẽ, chừng nào con người còn biết hẹn với nhau một ngày gặp lại, chừng ấy hy vọng vẫn còn hiện hữu.

Trong căn phòng bệnh ung bướu chiều hôm ấy, thứ được trao đổi không chỉ là số điện thoại, mà còn là một lời hẹn mang tên hy vọng.

Bài đăng trên báo Tuổi trẻ https://tuoitre.vn/hen-gap-nhau-o-moc-chau-ong-nhe-100260618220859438.htm





Mẹ về


Hơn nửa thế kỷ trước, cô thiếu nữ Nguyễn Thị Hải Yến của một làng quê ven biển đói nghèo vất vả, đã rời quê nhà, bắt đầu chuyến đi lớn đầu tiên của cuộc đời. Đó là ngày mẹ khăn gói ra Hà Nội, trở thành sinh viên khóa đầu tiên của Trường Tuyên huấn Trung ương, mang theo những ước mơ tuổi trẻ và niềm tin vào tương lai. 

Hôm nay, sau một hành trình dài gần tám mươi năm, mẹ lại lên đường. Nhưng đây là chuyến đi cuối cùng của cuộc đời của mẹ. Trên chuyến trở về quê hương lần này, mẹ không còn phải mang theo những nhọc nhằn của bệnh tật, những cơn giằng co của hơi thở trong những ngày cuối đời. 

Mẹ ra đi thanh thản, mang theo tình yêu thương dành cho cha, cho các con, các cháu và những người thân yêu nhất. 

Mẹ về quê trong niềm mong ngóng mà chính mẹ đã nhiều lần nhắc đến trong những ngày dưỡng bệnh. Mẹ về trong vòng tay đợi chờ của họ hàng, làng xóm, của những người đã cùng mẹ đi qua biết bao năm tháng. 

Không ai trong chúng con nghĩ rằng chuyến trở lại Hà Nội cách đây ba tuần lại là chuyến đi cuối cùng của mẹ. Khi ấy, mẹ vẫn như bao lần trước, mang đến cho các con nguồn năng lượng tích cực vô tận. Sự lạc quan, nghị lực và tình yêu thương của mẹ luôn là món quà quý giá nhất mà chúng con được nhận trong suốt cuộc đời mình. 

Giờ đây, chúng con đưa mẹ về với quê hương, nhờ ánh từ bi của Đức Phật chở che trên chặng đường viễn du. Nơi ấy sẽ không còn đau đớn, không còn những ngày, những phút chống chọi với bệnh tật, giành giật từng hơi thở, chỉ còn sự bình yên và thanh thản. 

Mẹ đã hoàn thành cuộc hành trình của một đời người. Còn chúng con sẽ tiếp tục bước đi, mang theo những điều mẹ đã dạy, mang theo tình yêu mà mẹ đã dành cho gia đình suốt cả cuộc đời mình. 

Mẹ về nhé. Về với đất quê, về với cội nguồn, về với những người thân yêu đã đợi mẹ từ rất lâu. 

Và nếu có những kiếp sau, chúng con vẫn nguyện được làm con của mẹ.







13 tháng 5, 2026

TOÀN VĂN BÀI THUYẾT PHÁP CỦA HOÀNG TÔN VAIROCHANA RINPOCHE Tại Chùa Hưng Phúc

KHÁM PHÁ CÁC THẦN CÂY DI SẢN

CẮN NGƯỜI - NGƯỜI CẮN

4 LOẠI TRÁI CÂY CÓ THỂ TRỞ THÀNH “TỶ ĐÔ” XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

Infographic: 4 Loại Trái Cây Tỷ Đô

4 LOẠI TRÁI CÂY "TỶ ĐÔ"
TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM

Sau sầu riêng, Việt Nam đang sở hữu những "vũ khí" chiến lược mới để chinh phục thị trường thế giới.

Quy mô ngành

1,3 Triệu Ha

Cây ăn quả cả nước

Kỷ lục Sầu riêng

$3,3 Tỷ USD

Dự kiến xuất khẩu 2024

Tổng sản lượng

15 Triệu Tấn

Mỗi năm

02 CHÂN DUNG 4 "ỨNG VIÊN" TIỀM NĂNG

🟣

Chanh Dây

"Ngôi sao tốc độ"

Chu kỳ thu hoạch Chỉ 6 tháng
Năng suất 40–60 tấn/ha

Điểm nhấn kinh tế:

1 TỶ ĐỒNG/HA

🍌

Chuối

"Gã khổng lồ xuất khẩu"

Vị thế thế giới Thứ 9 toàn cầu
Thị trường chính Trung Quốc, Nhật, EU

Thành tích 2024:

625.000 TẤN sang Trung Quốc

🍍

Dứa

"Đòn bẩy EVFTA"

Độ phủ thị trường 122 Quốc gia
Chiến lược Chế biến sâu

Cơ hội vàng:

THUẾ SUẤT 0% vào EU

🥥

Dừa

"Thế mạnh tuyệt đối"

Diện tích lớn nhất 202.000 Ha
Sản phẩm GAP & OCOP

Sản lượng:

2,28 TRIỆU TẤN

"Công thức" Bứt phá Tỷ đô

01

Truy xuất nguồn gốc

02

Liên kết chuỗi giá trị

03

Công nghệ chế biến sâu

04

Chuẩn hóa vùng trồng

05

Xuất khẩu chính ngạch

"Từ sản lượng đến chất lượng – Từ nông sản đến thương hiệu toàn cầu"

#NongSanViet #XuatKhauTyDo #AgriViet2030

12 tháng 4, 2026

Người Hà Nội ai cũng có một quá trà đá vỉa hè ruột

Trước cửa tòa soạn Báo Tiền Phong ở số 15 Hồ Xuân Hương, có một quán trà đá nhỏ đã ở đó từ rất lâu – lâu đến mức gắn với ký ức tuổi trẻ của nhiều phóng viên, nhà báo. Hồi ấy, ngay trước gara còn có một cây xà cừ cổ thụ, thân to đến mấy người ôm không xuể, tỏa bóng mát xuống góc vỉa hè nơi bà Bình ngồi bán nước. Về sau, bà chuyển sang phía đối diện, nép mình bên mé cổng tòa soạn Báo Nhi Đồng. Quán trà đá của bà được cánh phóng viên ưu ái gọi vui là “văn phòng đại diện của thông tấn xã vỉa hè” – nơi những câu chuyện không chính thức nhiều khi lại lan đi nhanh nhất.

Bà Bình không phải người hay nói, giọng nhỏ, gương mặt có phần nghiêm, thoạt nhìn dễ khiến người ta nghĩ là khó tính. Nhưng ngồi với bà rồi mới thấy, cái sự “khó” ấy lại là thứ khiến người ta yên tâm. Trà của bà lúc nào cũng vừa vặn – không đậm quá, không nhạt quá, rất ưa. Nhưng thứ giữ chân người ta không chỉ là trà. Ở bà có một nguyên tắc lặng lẽ: nghe nhiều, biết nhiều, nhưng chưa từng thấy bà đem chuyện của ai ra làm câu chuyện để cãi cọ hay bàn tán. Những câu chuyện riêng tư, những bực dọc nghề nghiệp, những điều chưa tiện nói thành lời… đều được gửi lại nơi góc trà ấy, rồi dừng lại ở đó.

Vì thế, quán trà đá của bà trở thành một điểm hẹn quen thuộc. Phóng viên trẻ, già, người vui hay người buồn – ai cũng có lúc ghé xuống. Có ngày chỉ để uống cốc trà, có ngày để giãi bày, có ngày lại để hòa giải một câu chuyện nào đó chưa kịp nguôi.

Bà Bình có một người em gái. Hồi trước, người ta vẫn thấy hai chị em thay nhau bán nước – hôm chị, hôm em. Mãi sau này bà mới kể, em bà lấy chồng tận Ninh Hiệp, hoàn cảnh khó khăn nên bà đón lên, cho ngồi bán cùng đỡ đần. Khi cuộc sống của em dần ổn định, bà lại trở về với góc quán nhỏ của mình, lặng lẽ như cách bà vẫn luôn hiện diện.

Có những ngày bất chợt nghĩ, nếu một sáng nào đó đi qua phố Hồ Xuân Hương mà không thấy bà Bình lúi húi dựng ô, bày ấm chén, chắc hẳn nhiều người sẽ thấy thiếu đi một điều gì rất quen. Không chỉ là một quán trà đá, mà là một góc ký ức – nơi những câu chuyện trên trời dưới biển từng được rót ra, cùng với chén trà nóng, trà đá, nhân trần hay nước vối… chậm rãi mà bền bỉ, như chính cách bà Bình đã ngồi đó suốt bao năm.



Nha Trang, vì thế, không chỉ là nơi để đến

Người ta thường nói về Nha Trang bằng biển xanh, cát trắng, bằng những resort rực nắng và dòng khách du lịch không ngớt. Nhưng có một Nha Trang khác, lùi lại một chút khỏi trục đường Trần Phú Nha Trang đông đúc, nơi nhịp sống chậm hơn và những thói quen cũng… lạ hơn.

Ở đó, người Nha Trang không mấy khi ăn sáng ngoài hàng.

Buổi sáng của họ thường bắt đầu ở nhà. Một bữa ăn giản dị, nhanh gọn, đủ để đi làm, đi chợ, đi biển. Những quán ăn sáng, nếu có, lại chủ yếu nằm dọc khu phố du lịch – nơi dành cho người phương xa nhiều hơn là người bản địa. Thành ra, nếu bạn rẽ ra khỏi những con đường quen thuộc ấy, việc tìm một hàng quán ăn sáng đôi khi không dễ như bạn nghĩ.

Cái “khó” ấy không phải vì thiếu, mà vì không phải dành cho bạn.

Rồi đến chuyện giao thông – một điều lạ khác, nhưng là cái lạ khiến người ta bất ngờ rồi… mỉm cười.

Ở Nha Trang, người ta đi xe máy rất nghiêm túc. Không phải kiểu nghiêm túc căng thẳng, mà là một sự tuân thủ nhẹ nhàng, có ý thức. Bạn chỉ cần lỡ chạy một đoạn ngắn mà không đội mũ bảo hiểm, sẽ có người đi ngang qua, nhìn bạn, cười rất tươi, rồi đưa tay lên đầu ra hiệu: “Đội mũ đi”.

Không trách móc. Không khó chịu. Chỉ là một lời nhắc… tử tế.

Thứ văn hóa ấy, không ồn ào, nhưng khiến người ta nhớ lâu.

Và rồi, trong một con ngõ nhỏ gần ngã ba ngã ba Trần Phú Hoàng Diệu Nha Trang – nơi đoàn chúng tôi tá túc – có một quán quà sáng.

Quán nhỏ. Nhỏ đến mức nếu không để ý, bạn sẽ đi qua mà không hề hay biết. Không biển hiệu cầu kỳ, không bàn ghế ngay ngắn. Chỉ là vài chiếc ghế thấp, một nồi nước dùng nghi ngút khói, và một người bán hàng lặng lẽ.

Nhưng cái lạ nằm ở chỗ: quán chỉ bán… mỗi ngày một món.

Hôm nay có thể là bún cá. Ngày mai là bánh canh. Ngày kia lại đổi sang bò kho, hay một món gì đó bạn không đoán trước được. Không thực đơn. Không lựa chọn. Chỉ có sự chấp nhận – và một chút háo hức.

Khách đến, ăn món của ngày hôm đó. Ngon thì nhớ. Mà nhớ rồi… cũng chưa chắc có cơ hội ăn lại.

Nếu bạn chỉ ở Nha Trang dưới một tuần, có khi bạn sẽ bỏ lỡ một món ngon mà cả đời không gặp lại lần thứ hai.

Nghe có vẻ “thiệt thòi”, nhưng chính cái thiệt thòi ấy lại làm nên một cảm giác rất lạ: mọi trải nghiệm ở đây đều có tính “một lần”.

Không lặp lại. Không sắp đặt. Không chiều theo thói quen của khách.

Nha Trang, vì thế, không chỉ là nơi để đến.

Mà là nơi để… nhớ.

Clip: Quán của Cang - Cang trong chữ cang thiệp nghe!





https://www.facebook.com/share/v/1FYJ5gtWDT/



29 tháng 3, 2026

Học lại cách nhìn của trẻ thơ

Tạm khép lại công việc chúng tôi trở về nhà.

Khi máy bay vừa rời khỏi đường băng sân bay quốc tế Cam Ranh, thành phố Nha Trang chậm rãi lùi lại phía sau, thu mình trong một tấm thảm ánh sáng rực rỡ dưới cánh bay. Từ trên cao nhìn xuống, mọi thứ bỗng trở nên nhỏ bé và hiền hòa lạ thường. Tôi kịp nhận ra quảng trường 2/4 – nơi chỉ ít giờ trước thôi còn vang lên nhịp chân, tiếng hò reo của gần 13 nghìn vận động viên trong Giải Vô địch quốc gia Marathon – Báo Tiền Phong lần thứ 67 năm 2026. Tất cả giờ đây chỉ còn là một điểm sáng giữa muôn vàn điểm sáng.

Giữa khoảnh khắc ấy, từ phía sau lưng, một giọng trẻ con vang lên, trong veo và đầy kinh ngạc: “Nhìn Trái Đất kìa!”

Tôi khựng lại.

Không phải “thành phố”, không phải “Nha Trang”, cũng chẳng phải “quảng trường” hay “đường đua” – cậu bé gọi tất cả bằng một cái tên rộng lớn hơn rất nhiều: “Trái Đất”.

Một cách nhìn giản dị mà bất ngờ mở ra cả một không gian khác. Ở độ cao này, ranh giới giữa những khái niệm quen thuộc bỗng tan biến. Không còn phân biệt đâu là phố xá, đâu là công trình, đâu là nơi mình vừa đi qua. Tất cả chỉ là một phần của thế giới rộng lớn mà cậu bé vừa chạm tới bằng ánh nhìn đầu đời.

Tôi chợt nhận ra, lâu nay, người lớn chúng ta vẫn thường tự thu hẹp tầm mắt của mình. Ta quen nhìn mọi thứ qua những cái tên, những định nghĩa, những nhãn dán có sẵn. Ta gọi tên để dễ hiểu, nhưng cũng vô tình đóng khung thế giới trong những giới hạn của riêng mình.

Còn cậu bé kia, chỉ đơn giản nhìn thấy “Trái Đất”.

Một cách nhìn không bị chia cắt, không định kiến, không phân mảnh. Một cách nhìn khiến thế giới trở nên bao la hơn, và con người trong đó cũng trở nên nhỏ bé nhưng tự do hơn.

Ngồi bên ô cửa sổ máy bay, tôi bỗng thấy mình như vừa được đánh thức. Hóa ra, không phải thế giới chật lại, mà là ánh nhìn của mình đã hẹp đi từ lúc nào không hay.

Và đôi khi, để nhìn thấy sự rộng lớn, ta chỉ cần học lại cách nhìn của một đứa trẻ.


 Đèo Cù Hin, Nha Trang nhìn từ “không gian” 
Biển người trong ngày thi đấu Giải Vô địch Quốc gia Marathon báo Tiền Phong lần thứ 67 năm 2026







7 tháng 3, 2026

Khai xuân bằng của câu chuyện của độc giả:

Tết của người ta là du xuân - Tết của tôi là… chồng nôn, con ỉa  

Tôi ngồi trên taxi trên đường về sau một ngày đi chúc tết, một tay ôm thằng cu đang ngủ gục vì mệt, một tay cầm sẵn cái túi nilon “phòng thân”. Bên cạnh là chồng – người đàn ông buổi sáng còn hùng hồn tuyên bố:

“Anh đi chúc Tết tí thôi, không say đâu!”

Ừ. Không say.

Chỉ là vừa lên xe đã tái mặt, mồ hôi túa ra như tắm, rồi quay sang tôi thì thào:

“Em ơi… mở cửa sổ…”.

Tài xế nhìn qua gương chiếu hậu. Tôi nhìn chồng. Hai bên hiểu nhau không cần nói.

Chưa kịp hạ hết kính, anh đã “tặng quà năm mới” vào đúng chiếc túi tôi kịp đưa ra.

Phía trên là một túi đầy.

Phía dưới, thằng cu con giật mình tỉnh dậy vì mùi lạ, rồi lặp đi lặp lại như phát thanh viên:

“Con ỉa rồi… con ỉa rồi…”.

Tôi chỉ muốn độn thổ. Máu dồn lên não. Cỡ này cả năm không cần thuốc hoạt huyết. 

Tài xế lặng lẽ đeo khẩu trang. Mở hết cửa kính phía sau. 

Về đến nhà, tôi lo cho con ngủ trước.

Chồng thì nằm vật ra giường, vẫn cố vớt vát chút sĩ diện:

“Tại anh rối loạn tiêu hoá thôi…”.

Ừ, rối loạn tiêu hoá.

Chứ không phải 5 nhà, 5 loại rượu, và 5 câu “không uống là không nể anh”.

Tôi và cô em họ nhìn nhau. Không nói nhiều. Hai đứa dắt nhau ra ngoài ăn một bát bún bò Huế nóng hổi – coi như phần thưởng cho việc đã sống sót qua một buổi tối “trên nôn dưới ỉa”.

Tết vui thật.

Nhưng làm vợ, làm mẹ ngày Tết… đúng là một kỹ năng sinh tồn.

Tôi hỏi thật các chị em:

Vui xuân mà để vợ con xử lý hậu quả như thế thì có nên “giới hạn định mức rượu” từ năm sau không? Hay tôi đang quá khó tính?

Tết nhà mọi người thế nào? Có ai từng rơi vào cảnh “trên chồng: em ơi anh nôn, dưới mẹ ơi con ỉa” giống tôi không?

1️⃣ Văn hoá ngày Tết phải uống rượu 

👉 Có nên duy trì tư duy này không?

2️⃣ Trách nhiệm của người đàn ông có gia đình

👉 Vui xuân có nên đặt giới hạn?

3️⃣ Gánh nặng vô hình của mẹ bỉm

👉 Tết có thực sự là “kỳ nghỉ” với phụ nữ?

4️⃣ Ứng xử văn minh khi say

👉 Say không xấu. Nhưng say đến mức làm khổ người khác thì sao?



Hồn cốt hội Lim

Giữa rừng người mớ ba mớ bảy, giữa những mặt hoa da phấn đến mức chẳng còn phân biệt nổi đâu là liền chị “real”, đâu là “fake”, tôi đã có lúc thấy mình lạc lõng. Tiếng quan họ từ các đám hát của các làng trong hội vang lên qua loa, vỡ vụn trong thứ âm thanh chát chúa.

Vậy mà rồi, hai gương mặt ấy xuất hiện – mộc mạc, nền nã, như bước ra từ một miền ký ức cũ. Hai mẹ con cô gái miền quan họ. Chỉ cần một ánh nhìn thôi, tôi bỗng quên khuấy những ồn ào quanh mình. Giữa hội Lim năm 2026, khoảnh khắc ấy khiến tôi ngỡ như đang được quay về hội Lim thuở đầu thế kỷ, trong những khuôn hình đen trắng của nghệ sĩ Võ An Ninh – nơi vẻ đẹp quan họ còn nguyên sơ, không son phấn, không phô trương.

Thật may, giữa náo nức và xô bồ, vẫn còn những gương mặt giữ được hồn cốt. Như một sợi dây mảnh mà bền, níu người ta ở lại với niềm thương, với ký ức.

Năm nay, lần đầu tiên Hội Lim được cấp xã Tiên Du đứng ra tổ chức sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính. Có thể mọi thứ còn đang vào guồng, còn đôi chút chông chênh. Nhưng chỉ cần còn đó những liền anh, liền chị giữ được giọng ca và phong thái xưa, thì hội Lim vẫn sẽ còn hồn.

Cũng trong sáng 28/2, tại xã Tiên Du đã diễn ra Lễ đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Hội Lim.

Phát biểu tại lễ đón nhận, ông Mai Sơn - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Ninh nhấn mạnh, đây không chỉ là niềm vui, niềm tự hào của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai xã Tiên Du, Liên Bão, mà còn là niềm vinh dự chung của tỉnh Bắc Ninh – vùng đất Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ và lan tỏa những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam.