27 tháng 7, 2026

Có mẹ thì mẹ làm cho...

Hồi còn sống, mẹ hay bảo: 

Có mẹ thì mẹ làm cho. 

Khi không có mẹ thì lo mà làm.

Tuần thứ năm kể từ ngày mẹ rời nhà. Theo quan niệm dân gian, mẹ đã đi được hai phần ba chặng đường của bốn mươi chín ngày. Còn chúng con ở lại cũng đã đi được hai phần ba chặng đường học cách sống trong một ngôi nhà không còn mẹ.

Mỗi cuối tuần trở về, con cầm chổi quét sân. Tỉa những bụi cỏ ven lối đi. Thu gom lá khô dưới gốc cau. Lau từng chiếc bàn, chiếc ghế. Những việc ngày xưa chưa bao giờ để ý, nay tự nhiên ai cũng biết phải làm.

Ngày trước, mỗi lần về quê là những ngày được làm con đúng nghĩa.

Về đến cổng đã có mẹ hỏi ăn gì. Quần áo bẩn mẹ gom đi giặt. Chăn màn mẹ phơi nắng. Cơm nước đã bày sẵn. Rau ngoài vườn, cá dưới ao, quả trong vườn... tất cả đều qua đôi bàn tay của mẹ trước khi đến với chúng con. Từ lúc đặt chân về nhà cho đến lúc quay lại Hà Nội, gần như chẳng phải động tay vào việc gì. Mẹ làm như một lẽ tự nhiên, đến mức chúng con ngỡ đó cũng là điều tự nhiên của cuộc đời.

Chỉ đến khi không còn mẹ, mới biết ngôi nhà sạch sẽ chưa bao giờ tự sạch. Mảnh vườn xanh chưa bao giờ tự xanh. Mâm cơm ngon chưa bao giờ tự có. Phía sau tất cả là bóng lưng của mẹ, gom góp từng việc nhỏ suốt cả đời.

Con vẫn mơ thấy mẹ.

Đêm nào cũng mong được gặp mẹ trong giấc ngủ. Chỉ cần thấy mẹ đang cười, đang ngồi đan len, nhặt rau hay lặng lẽ tưới cây cũng đủ để sáng hôm sau lòng nhẹ đi một chút. Nhưng rồi con lại bâng khuâng tự hỏi, liệu nỗi nhớ quá nhiều của những người ở lại có vô tình níu bước chân người đã khuất? Có làm mẹ chậm hơn trên con đường về miền cực lạc?

Con không biết.

Chỉ biết mỗi sáng thức dậy, con đều tự nhủ sẽ cố gắng bình yên để mẹ yên lòng.

Vườn cau của mẹ đang vào mùa quả mới. Những buồng cau xanh mướt lại lặng lẽ lớn lên như chưa từng có cuộc chia ly nào. Hương cau ngan ngát, len qua từng góc sân, quấn quýt dưới mái hiên, theo gió đi khắp khu vườn. Mùi hương ấy vẫn giống hệt những mùa trước, chỉ khác là không còn dáng mẹ ngước nhìn rồi chép miệng: "Được mùa lúa úa mùa cau. Được mùa cau thì đau mùa lúa".

Dưới ao, đàn cá vẫn nhởn nhơ bơi lội. Chúng vẫn tụ lại ở góc mẹ thường ngồi thả câu, như thể vẫn đợi Cụ bà thích câu cá mỗi chiều mang theo chiếc cần tre quen thuộc. Thiên nhiên dường như không biết mất mát là gì. Chỉ có lòng người là mãi chưa quen với khoảng trống.

Có mẹ thì mẹ làm cho.

Không có mẹ, con lo mà làm.

Rồi sẽ có một ngày, nỗi nhớ không còn quặn thắt như hôm nay.

Nhưng con biết, Mẹ chỉ đang ở một khu vườn khác, bình yên hơn. 





19 tháng 7, 2026

Mùa quả ngọt cuối cùng của mẹ

Nhà bố mẹ có một khu vườn nhỏ.

Mẹ bảo bố trồng cây dày một chút để cỏ khỏi mọc. Nhưng rồi theo năm tháng, khu vườn ấy trở thành một khu rừng nhỏ. Tầng cao nhất là những hàng cau thẳng tắp, vươn lên nền trời, tán lá xòe ra như những chiếc ô xanh che nắng. Thấp hơn là mít, bơ, xoài, chanh… chen nhau lớn. Dưới chân cây lại là giàn mướp, giàn ngà, luống rau theo mùa. Quanh năm, khu vườn đều có một thứ quả ngọt để chờ con cháu.

Quanh năm mẹ cứ hết trồng rồi lại chăm. Quả nhiều đến mức ăn chẳng xuể. Nhà dùng không hết, mẹ lại mang biếu hàng xóm một lượt. Những mùa trái rộ, sợ con về không còn quả tươi, mẹ lại tỉ mẩn ngâm rượu, nấu si rô, làm mứt, cất vào từng chiếc lọ thủy tinh. Mỗi lần gọi điện, mẹ đều cười: “Để lúc nào các con về còn có cái mà thưởng thức”.

Mẹ cất cả nỗi nhớ của mình vào đó.

Lần cuối mẹ rời nhà đi Hà Nội chữa bệnh, mấy cây mít trong vườn đang lúc lỉu quả. Mẹ vẫn nghĩ mình chỉ đi vài hôm rồi lại về. Mẹ chẳng dặn cô Đà hàng xóm sang hái giúp, cũng chẳng bảo ai thu hoạch. Chuyến đi ấy, trong suy nghĩ của mẹ, chỉ là một quãng ngắn.

Nhưng mẹ đã không trở về và mẹ bắt đầu hành trình rất dài của riêng mẹ.

Ngày đưa mẹ về nhà, những quả mít đã chín vàng. Chúng rụng đầy dưới gốc, tỏa mùi thơm ngọt khắp khu vườn.

Sáng nay đã là tuần thứ tư trong thất tuần của mẹ.

Anh em hái được hai chục quả bơ già, xanh mướt, đặt lên mâm ngũ quả. Ngoài vườn, mấy quả mít muộn đã mẩy tròn, chắc chỉ sang tuần là chín tới. Những dây ngà vẫn mơn mởn ôm gọn những thân cau.

Cây vẫn đến mùa. Quả vẫn ngọt. Và rồi sẽ có những mùa quả khác tiếp nối.

Nhưng sẽ không bao giờ còn mùa quả ngọt của mẹ nữa.






Mới tháng trước

Mới tháng trước thôi, mỗi lần về quê, chúng tôi đều có một thói quen. Không ai báo trước cho mẹ. Chỉ khi xe còn cách nhà chừng mười cây số, đến đoạn Chợ Trâu quen thuộc, mới gọi điện: "Mẹ ơi, con về đến Chợ Trâu rồi".

Chúng tôi cố tình làm thế. Không phải để tạo bất ngờ, mà để mẹ không kịp tất bật. Nếu biết từ sớm, mẹ sẽ lại đi chợ, mổ gà, nấu nướng đủ đầy như một bữa cỗ. Mâm cơm lúc nào cũng nhiều hơn số người ngồi quanh. Ăn chẳng hết, còn mẹ thì mệt. Chúng tôi chỉ muốn về nhà, bố mẹ có gì con ăn nấy. Nhưng với mẹ, mấy chục năm trước từ khi con bắt đầu đi xa, mỗi lần con về nhà như có hội.

Mới tháng trước thôi, mỗi chuyến xe ngược Hà Nội đều có một người ở quê thấp thỏm. Ước chừng xe sắp về nơi, thể nào điện thoại cũng reo: "Các con đi đến đâu rồi?", rồi dặn thêm một câu đã nghe không biết bao nhiêu lần: "Về đến nhà thì gọi cho mẹ nhé!".

Chỉ khi nghe đầu dây bên kia báo: "Con về đến nơi rồi mẹ ạ", mẹ mới thật sự yên lòng. Cứ như suốt cả quãng đường hơn trăm cây số ấy, mẹ cũng đi cùng chúng tôi, bằng sự thấp thỏm của mẹ.

Mới tháng trước thôi, lần nào lên Hà Nội tôi cũng dặn trước:

"Con không mang gì đâu mẹ nhé".

Thế mà đến lúc mở cốp xe, vẫn kín mít nào trứng gà, mớ rau, quả bí, mít, chuối... Toàn những thứ quê mùa mà ở Hà Nội chẳng thiếu để mua.

Nhưng mẹ luôn có đủ lý do.

"Cái này nhà trồng".

"Rau này cô Cừ mới cho"…

Tôi biết, những thứ mẹ gửi không phải vì Hà Nội không có. Mà vì trong từng mớ rau, từng cân gạo, mẹ muốn gửi theo một phần ngôi nhà. Nên lần nào cũng bảo không lấy, rồi lần nào cũng chở đầy.

Và cũng mới tháng trước thôi... Mỗi lần xe lăn bánh rời cổng, trước hiên nhà luôn có hai người đứng vẫy tay. Rồi chậm chạp đi ra tận đầu ngõ, đứng nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất hẳn sau khúc cua. Chúng tôi biết phía sau mình vẫn còn hai ánh mắt dõi theo rất lâu, lâu hơn cả lúc không còn nhìn thấy chiếc xe nữa.

Hôm nay về, mọi thứ vẫn như cũ.

Chỉ có một người không còn đứng ở đó.

Bố vẫn đưa các con ra tận thềm, vẫn giơ tay vẫy như bao lần. Nhưng bên cạnh bố chỉ còn khoảng trống. Mình bố đứng giữa khoảng sân từng có hai người.

Có những mất mát không nằm ở những điều lớn lao.

Nó nằm ở một cuộc điện thoại không còn reo đúng giờ.

Ở lời dặn "về đến nơi thì gọi cho mẹ" không còn ai nhắc nữa.

Ở cái cốp xe bỗng nhẹ đi.

Và ở mái hiên cũ, nơi từ nay chỉ còn một người đứng vẫy tay tiễn những đứa con đi xa.

Mới tháng trước thôi...

Vậy mà đã như thuộc về một không gian khác.

----

Chép lại bài thơ của ông bạn Lý Thành Tâm

MỒ CÔI

Hoàng hôn về trắng cánh đồng

Mẹ đi đâu giữa mênh mông cánh cò

Bâng khuâng con nhặt câu hò

Vịn vài giọt nắng lần dò về thăm

Tìm người trong cõi xa xăm

Dáng như xưa dẫu tháng năm chất chồng

Khổ đau đeo tấm lưng còng

Gieo neo bao sợi tóc bồng với mây

Vẫn còn đây! Vẫn còn đây!

Trầm trầm tiếng mẹ đong đầy yêu thương

Chiều tàn chầm chậm buông sương

Mồ côi con tựa giọt chuông sa chùa.



12 tháng 7, 2026

“Bảo tàng của mẹ”

Sáng nay, tôi pha cà phê vào chiếc ca sắt tráng men vừa tìm thấy trong “bảo tàng của mẹ”.

Đó là chiếc ca mẹ mua bằng tem phiếu từ mấy chục năm trước, mỗi anh em một cái. Bao năm rồi, nó nằm lặng lẽ trong góc tủ, cho đến khi mẹ đi xa, tôi mới có dịp cầm lại trên tay. Lớp men đã sứt vài chỗ, quai ca đã ngả màu theo thời gian, nhưng chỉ cần rót nước sôi vào, cả một quãng đời cũ như bừng thức.

Phải đến sau ngày mẹ mất, “bảo tàng của mẹ” mới được tôi mở ra và sắp xếp lại.

Ở đó có chiếc giường cưới ông bà sắm cho bố mẹ cách đây năm mươi tư năm. Bao năm không còn dùng đến, nó vẫn được mẹ cẩn thận xếp gọn trong kho, như thể chỉ cần một ngày nào đó sẽ lại có người mang ra.

Có chiếc chăn con công mẹ chuẩn bị từ rất lâu để dành làm chăn cưới cho tôi. Vậy mà giờ con trai tôi đã hai mươi sáu tuổi, chiếc chăn vẫn còn nguyên nếp gấp trong tủ.

Mỗi món đồ là một lát cắt của ký ức.

Đôi tôm sứ Bát Tràng tôi mua trong Bách hóa Tổng hợp Tràng Tiền vào lần đầu tiên được lên Hà Nội năm 1986 vẫn còn nguyên vẹn. Chuyến đi ấy không chỉ đem về một món đồ lưu niệm, mà còn mở ra trước mắt cậu bé năm nào một chân trời mới, gieo những ước mơ đầu tiên về thế giới rộng lớn bên ngoài làng quê.

Kia là những cuốn truyện ngắn, tiểu thuyết nổi tiếng. Hồi ấy, bố đã dành gần trọn tháng lương để mua cho hai anh em mỗi khi hiệu sách nhân dân huyện có đợt sách mới. Những trang sách ấy đã nuôi lớn tuổi thơ và dạy chúng tôi biết mơ, biết nghĩ.

Đây là chiếc máy xay cháo của cháu Tôm từ những ngày còn bế ngửa. Còn kia là chiếc áo lụa trắng ngà Hương mặc trong lễ ăn hỏi. Mẹ giặt sạch, treo ngay ngắn trong chiếc tủ áo của mình. Chiếc tủ mà mãi đến sau ngày mẹ mất, tôi mới  mở ra.

Còn nữa, chiếc ô tô đạp bằng chân của anh em Tôm Tép Trũi vẫn được bọc nilon để gọn gàng trên nóc bể nước; Bộ quân cờ tướng tiện bằng gỗ bà dạy Tôm đánh cờ từ hồi lên 10… Còn đây những siêu nhân GAO đời đầu, những món bất ly thân của các cháu ngày thơ bé…

Theo phong tục, đồ đạc của người đã khuất rồi sẽ phải bỏ đi. Nhưng đứng giữa “bảo tàng của mẹ”, tôi không biết phải bắt đầu từ đâu.

Bởi những gì còn lại đâu chỉ là vài món đồ cũ. Chúng đã lặng lẽ đi cùng gia đình qua biết bao dấu mốc của cuộc đời: ngày bố mẹ nên duyên, ngày con cái khôn lớn, ngày các cháu chào đời. Mỗi vết xước, mỗi nếp gấp đều cất giữ một phần ký ức.

Có lẽ “bảo tàng của mẹ” chỉ có ý nghĩa với cuộc đời anh em chúng tôi, nhưng tôi muốn được giữ thật lâu. Không phải để níu mẹ ở lại, mà để mỗi khi chạm vào một món đồ, tôi vẫn có cảm giác mẹ vừa mới đi đâu đó, rồi mẹ sẽ về và sẽ lại mỉm cười bước vào nhà như sau một phiên chợ huyện bán được hết nông sản trong vườn của mẹ.







5 tháng 7, 2026

Như vẫn đang chơi trò cút bắt ❤

 ️Mới đó mà đã sang tuần thứ hai trong bảy tuần thất. Chỉ ngần ấy ngày thôi, bằng đúng quãng thời gian mẹ nằm viện ở những ngày cuối đời. Vậy mà hai khoảng thời gian ấy lại khác nhau đến thế. Mười lăm ngày trong bệnh viện dài như vô tận, mỗi giờ mỗi phút đều nặng trĩu hy vọng và chờ đợi. Còn từ ngày mẹ đi, thời gian lại lặng lẽ lướt qua, nhanh đến mức con chưa kịp ngoảnh lại đã thêm một tuần.

Mẹ con mình dường như vẫn đang chơi một trò cút bắt của ngày thơ bé. Khi con ở Hà Nội, con vẫn hình dung mẹ đang ở quê, buổi sáng xách cần ra ao thả câu, rồi lại cặm cụi chăm những khóm hoa, luống rau, những cái cây mẹ nâng niu như những người bạn nhỏ. Rồi mẹ sẽ lại quay những thước phim để upload lên tài khoản Tiktok “Cụ bà thích câu cá” của mẹ. Mọi thứ vẫn nguyên vẹn như bao ngày trước.

Đến khi con trở về nhà, bước lên nhà trên, con lại ngỡ mẹ đang ở dưới bếp - “vương quốc” thân thuộc của mẹ. Nơi ấy lúc nào cũng thấp thoáng bóng dáng mẹ lúi húi nấu nướng, nhặt rau, nêm nếm, chuẩn bị những món ăn mà chỉ cần ngửi mùi thôi cũng biết là mẹ đang ở nhà.

Thế nên nhiều lúc con có cảm giác mẹ chỉ vừa khuất khỏi tầm mắt. Chỉ cần đi thêm vài bước, hoặc gọi khẽ một tiếng, mẹ sẽ lại mỉm cười đáp lời như bao lần trước.

Hóa ra, chia xa cũng giống một trò cút bắt. Người đi chỉ là trốn ở một nơi mà người ở lại chưa thể tìm đến. Còn ký ức thì cứ dẫn lối, để mỗi góc nhà, mỗi khoảng sân, mỗi nếp sinh hoạt quen thuộc đều thấp thoáng bóng hình mẹ.

Con biết rồi sẽ đến một ngày con sẽ quen với sự vắng mặt ấy. Nhưng hôm nay, ở tuần thất thứ hai của mẹ, con vẫn muốn được tin rằng mẹ chỉ đang tạm nấp ở một nơi rất gần.



Có những sự trùng hợp rất lạ

 Mẹ rời xa chúng con lúc 7 giờ 10 phút – đúng những con số trong ngày sinh của con (mùng 7/10). Ngày mẹ đi là ngày 23, trùng ngày sinh của em Ảnh. Năm 2026 có số 20 là ngày sinh của bố; có số 26 lại đúng bằng tuổi của cháu nội Tôm.

Có lẽ chỉ là những sự ngẫu nhiên. Nhưng với người ở lại, mỗi con số đều trở thành một sợi dây để nhớ về mẹ, để tin rằng mẹ vẫn đang nhắn gửi điều gì đó bằng cách rất riêng của mình.

Thầy lễ nói mẹ đã tự chọn tên hiệu cho mẹ là Từ Hoà.

Nam mô A Di Đà Phật.



2 tháng 7, 2026

Lời hẹn của hy vọng

Ở Trung tâm Ung bướu của một bệnh viện tuyến trung ương, người ta thường gặp những ánh mắt lo âu nhiều hơn những tiếng cười. Mỗi cánh cửa phòng bệnh mở ra đều mang theo những kết quả xét nghiệm, những phác đồ điều trị và đôi khi là những tiên lượng khiến người bệnh lặng đi rất lâu.

Trong căn phòng bệnh mẹ tôi đang nằm điều trị có hai người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi.

Một bác quê Vĩnh Yên vừa trải qua cuộc phẫu thuật cắt bỏ hai phần ba tuyến tụy. Bác sĩ nói thời gian phía trước không còn nhiều. Ông nhập viện để chuẩn bị truyền hóa chất nhưng sức khỏe vẫn chưa đủ điều kiện.

Người nằm giường bên cạnh đến từ Mộc Châu. Ông đi khám vì một căn bệnh khác, không ngờ lại phát hiện ung thư đại tràng ở giai đoạn muộn. Bác sĩ vừa thông báo cho về nhà chờ lịch mổ. Khi nào sắp xếp được, bệnh viện sẽ gọi.

Hai con người, hai quê hương cách nhau hàng trăm cây số, hai số phận chẳng hề quen biết, lại gặp nhau trong một nơi mà chẳng ai mong muốn đặt chân đến. Họ nằm cạnh nhau được hai ngày.

Hai ngày không dài, nhưng đủ để những câu chuyện đời nối tiếp nhau từ sáng đến tối. Họ kể về những câu trên núi, những câu chuyện dưới đồng bằng, về con cháu, về những chuyến đi đã qua. Có lẽ vì cùng tuổi già, cùng bệnh tật, cùng đứng trước những ngã rẽ khó lường của số phận nên dễ dàng chia sẻ.

Ngày hôm qua, bác quê Vĩnh Yên làm thủ tục ra viện điều trị ngoại trú để được thực hiện một số xét nghiệm nhanh hơn. Buổi chiều, trước khi chia tay, hai ông xin số điện thoại của nhau.

Khung cảnh ấy tưởng như rất bình thường. Nhưng rồi tôi nghe thấy một câu nói khiến lòng mình chợt nghẹn lại.

Ông lão quê Vĩnh Yên cười bảo:

– Lần tới tôi lên Mộc Châu sẽ ghé thăm ông nhé.

Rồi như sợ người bạn mới quen quên mất mình, ông nói thêm:

– Ông nhớ lưu tên tôi là “Thành ung thư” cho dễ nhớ. Kẻo sau này tôi gọi lại không biết ông nào!

Cả hai cùng cười.

Một tiếng cười nhẹ tênh giữa phòng bệnh ung bướu.

“Lần tới tôi lên Mộc Châu…”

Lời hẹn ấy giản dị đến mức ai cũng có thể nói. Nhưng trong hoàn cảnh của hai người đàn ông đang mang trong mình những căn bệnh hiểm nghèo, nó trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết. Bởi để hẹn gặp lại nhau, trước hết người ta phải tin rằng mình còn một ngày mai. Phải tin rằng cuộc điều trị sẽ tiếp tục. Phải tin rằng vẫn còn những chuyến đi chưa thực hiện, những cuộc gặp chưa diễn ra.

Hy vọng, hóa ra không phải là điều gì lớn lao.

Hy vọng có thể chỉ là việc lưu số điện thoại của một người bạn mới quen. Là lời dặn “nhớ nghe máy khi tôi gọi”. Là dự định một ngày nào đó sẽ lên thăm Mộc Châu.

Giữa nơi mà nhiều người đang phải đối diện với những giới hạn khắc nghiệt của số phận, hai ông lão đã vô tình trao cho nhau một món quà quý giá: một lý do để chờ đợi.

Và có lẽ, chừng nào con người còn biết hẹn với nhau một ngày gặp lại, chừng ấy hy vọng vẫn còn hiện hữu.

Trong căn phòng bệnh ung bướu chiều hôm ấy, thứ được trao đổi không chỉ là số điện thoại, mà còn là một lời hẹn mang tên hy vọng.

Bài đăng trên báo Tuổi trẻ https://tuoitre.vn/hen-gap-nhau-o-moc-chau-ong-nhe-100260618220859438.htm