12 tháng 4, 2026

Người Hà Nội ai cũng có một quá trà đá vỉa hè ruột

Trước cửa tòa soạn Báo Tiền Phong ở số 15 Hồ Xuân Hương, có một quán trà đá nhỏ đã ở đó từ rất lâu – lâu đến mức gắn với ký ức tuổi trẻ của nhiều phóng viên, nhà báo. Hồi ấy, ngay trước gara còn có một cây xà cừ cổ thụ, thân to đến mấy người ôm không xuể, tỏa bóng mát xuống góc vỉa hè nơi bà Bình ngồi bán nước. Về sau, bà chuyển sang phía đối diện, nép mình bên mé cổng tòa soạn Báo Nhi Đồng. Quán trà đá của bà được cánh phóng viên ưu ái gọi vui là “văn phòng đại diện của thông tấn xã vỉa hè” – nơi những câu chuyện không chính thức nhiều khi lại lan đi nhanh nhất.

Bà Bình không phải người hay nói, giọng nhỏ, gương mặt có phần nghiêm, thoạt nhìn dễ khiến người ta nghĩ là khó tính. Nhưng ngồi với bà rồi mới thấy, cái sự “khó” ấy lại là thứ khiến người ta yên tâm. Trà của bà lúc nào cũng vừa vặn – không đậm quá, không nhạt quá, rất ưa. Nhưng thứ giữ chân người ta không chỉ là trà. Ở bà có một nguyên tắc lặng lẽ: nghe nhiều, biết nhiều, nhưng chưa từng thấy bà đem chuyện của ai ra làm câu chuyện để cãi cọ hay bàn tán. Những câu chuyện riêng tư, những bực dọc nghề nghiệp, những điều chưa tiện nói thành lời… đều được gửi lại nơi góc trà ấy, rồi dừng lại ở đó.

Vì thế, quán trà đá của bà trở thành một điểm hẹn quen thuộc. Phóng viên trẻ, già, người vui hay người buồn – ai cũng có lúc ghé xuống. Có ngày chỉ để uống cốc trà, có ngày để giãi bày, có ngày lại để hòa giải một câu chuyện nào đó chưa kịp nguôi.

Bà Bình có một người em gái. Hồi trước, người ta vẫn thấy hai chị em thay nhau bán nước – hôm chị, hôm em. Mãi sau này bà mới kể, em bà lấy chồng tận Ninh Hiệp, hoàn cảnh khó khăn nên bà đón lên, cho ngồi bán cùng đỡ đần. Khi cuộc sống của em dần ổn định, bà lại trở về với góc quán nhỏ của mình, lặng lẽ như cách bà vẫn luôn hiện diện.

Có những ngày bất chợt nghĩ, nếu một sáng nào đó đi qua phố Hồ Xuân Hương mà không thấy bà Bình lúi húi dựng ô, bày ấm chén, chắc hẳn nhiều người sẽ thấy thiếu đi một điều gì rất quen. Không chỉ là một quán trà đá, mà là một góc ký ức – nơi những câu chuyện trên trời dưới biển từng được rót ra, cùng với chén trà nóng, trà đá, nhân trần hay nước vối… chậm rãi mà bền bỉ, như chính cách bà Bình đã ngồi đó suốt bao năm.



Nha Trang, vì thế, không chỉ là nơi để đến

Người ta thường nói về Nha Trang bằng biển xanh, cát trắng, bằng những resort rực nắng và dòng khách du lịch không ngớt. Nhưng có một Nha Trang khác, lùi lại một chút khỏi trục đường Trần Phú Nha Trang đông đúc, nơi nhịp sống chậm hơn và những thói quen cũng… lạ hơn.

Ở đó, người Nha Trang không mấy khi ăn sáng ngoài hàng.

Buổi sáng của họ thường bắt đầu ở nhà. Một bữa ăn giản dị, nhanh gọn, đủ để đi làm, đi chợ, đi biển. Những quán ăn sáng, nếu có, lại chủ yếu nằm dọc khu phố du lịch – nơi dành cho người phương xa nhiều hơn là người bản địa. Thành ra, nếu bạn rẽ ra khỏi những con đường quen thuộc ấy, việc tìm một hàng quán ăn sáng đôi khi không dễ như bạn nghĩ.

Cái “khó” ấy không phải vì thiếu, mà vì không phải dành cho bạn.

Rồi đến chuyện giao thông – một điều lạ khác, nhưng là cái lạ khiến người ta bất ngờ rồi… mỉm cười.

Ở Nha Trang, người ta đi xe máy rất nghiêm túc. Không phải kiểu nghiêm túc căng thẳng, mà là một sự tuân thủ nhẹ nhàng, có ý thức. Bạn chỉ cần lỡ chạy một đoạn ngắn mà không đội mũ bảo hiểm, sẽ có người đi ngang qua, nhìn bạn, cười rất tươi, rồi đưa tay lên đầu ra hiệu: “Đội mũ đi”.

Không trách móc. Không khó chịu. Chỉ là một lời nhắc… tử tế.

Thứ văn hóa ấy, không ồn ào, nhưng khiến người ta nhớ lâu.

Và rồi, trong một con ngõ nhỏ gần ngã ba ngã ba Trần Phú Hoàng Diệu Nha Trang – nơi đoàn chúng tôi tá túc – có một quán quà sáng.

Quán nhỏ. Nhỏ đến mức nếu không để ý, bạn sẽ đi qua mà không hề hay biết. Không biển hiệu cầu kỳ, không bàn ghế ngay ngắn. Chỉ là vài chiếc ghế thấp, một nồi nước dùng nghi ngút khói, và một người bán hàng lặng lẽ.

Nhưng cái lạ nằm ở chỗ: quán chỉ bán… mỗi ngày một món.

Hôm nay có thể là bún cá. Ngày mai là bánh canh. Ngày kia lại đổi sang bò kho, hay một món gì đó bạn không đoán trước được. Không thực đơn. Không lựa chọn. Chỉ có sự chấp nhận – và một chút háo hức.

Khách đến, ăn món của ngày hôm đó. Ngon thì nhớ. Mà nhớ rồi… cũng chưa chắc có cơ hội ăn lại.

Nếu bạn chỉ ở Nha Trang dưới một tuần, có khi bạn sẽ bỏ lỡ một món ngon mà cả đời không gặp lại lần thứ hai.

Nghe có vẻ “thiệt thòi”, nhưng chính cái thiệt thòi ấy lại làm nên một cảm giác rất lạ: mọi trải nghiệm ở đây đều có tính “một lần”.

Không lặp lại. Không sắp đặt. Không chiều theo thói quen của khách.

Nha Trang, vì thế, không chỉ là nơi để đến.

Mà là nơi để… nhớ.

Clip: Quán của Cang - Cang trong chữ cang thiệp nghe!





https://www.facebook.com/share/v/1FYJ5gtWDT/



29 tháng 3, 2026

Học lại cách nhìn của trẻ thơ

Tạm khép lại công việc chúng tôi trở về nhà.

Khi máy bay vừa rời khỏi đường băng sân bay quốc tế Cam Ranh, thành phố Nha Trang chậm rãi lùi lại phía sau, thu mình trong một tấm thảm ánh sáng rực rỡ dưới cánh bay. Từ trên cao nhìn xuống, mọi thứ bỗng trở nên nhỏ bé và hiền hòa lạ thường. Tôi kịp nhận ra quảng trường 2/4 – nơi chỉ ít giờ trước thôi còn vang lên nhịp chân, tiếng hò reo của gần 13 nghìn vận động viên trong Giải Vô địch quốc gia Marathon – Báo Tiền Phong lần thứ 67 năm 2026. Tất cả giờ đây chỉ còn là một điểm sáng giữa muôn vàn điểm sáng.

Giữa khoảnh khắc ấy, từ phía sau lưng, một giọng trẻ con vang lên, trong veo và đầy kinh ngạc: “Nhìn Trái Đất kìa!”

Tôi khựng lại.

Không phải “thành phố”, không phải “Nha Trang”, cũng chẳng phải “quảng trường” hay “đường đua” – cậu bé gọi tất cả bằng một cái tên rộng lớn hơn rất nhiều: “Trái Đất”.

Một cách nhìn giản dị mà bất ngờ mở ra cả một không gian khác. Ở độ cao này, ranh giới giữa những khái niệm quen thuộc bỗng tan biến. Không còn phân biệt đâu là phố xá, đâu là công trình, đâu là nơi mình vừa đi qua. Tất cả chỉ là một phần của thế giới rộng lớn mà cậu bé vừa chạm tới bằng ánh nhìn đầu đời.

Tôi chợt nhận ra, lâu nay, người lớn chúng ta vẫn thường tự thu hẹp tầm mắt của mình. Ta quen nhìn mọi thứ qua những cái tên, những định nghĩa, những nhãn dán có sẵn. Ta gọi tên để dễ hiểu, nhưng cũng vô tình đóng khung thế giới trong những giới hạn của riêng mình.

Còn cậu bé kia, chỉ đơn giản nhìn thấy “Trái Đất”.

Một cách nhìn không bị chia cắt, không định kiến, không phân mảnh. Một cách nhìn khiến thế giới trở nên bao la hơn, và con người trong đó cũng trở nên nhỏ bé nhưng tự do hơn.

Ngồi bên ô cửa sổ máy bay, tôi bỗng thấy mình như vừa được đánh thức. Hóa ra, không phải thế giới chật lại, mà là ánh nhìn của mình đã hẹp đi từ lúc nào không hay.

Và đôi khi, để nhìn thấy sự rộng lớn, ta chỉ cần học lại cách nhìn của một đứa trẻ.


 Đèo Cù Hin, Nha Trang nhìn từ “không gian” 
Biển người trong ngày thi đấu Giải Vô địch Quốc gia Marathon báo Tiền Phong lần thứ 67 năm 2026







7 tháng 3, 2026

Khai xuân bằng của câu chuyện của độc giả:

Tết của người ta là du xuân - Tết của tôi là… chồng nôn, con ỉa  

Tôi ngồi trên taxi trên đường về sau một ngày đi chúc tết, một tay ôm thằng cu đang ngủ gục vì mệt, một tay cầm sẵn cái túi nilon “phòng thân”. Bên cạnh là chồng – người đàn ông buổi sáng còn hùng hồn tuyên bố:

“Anh đi chúc Tết tí thôi, không say đâu!”

Ừ. Không say.

Chỉ là vừa lên xe đã tái mặt, mồ hôi túa ra như tắm, rồi quay sang tôi thì thào:

“Em ơi… mở cửa sổ…”.

Tài xế nhìn qua gương chiếu hậu. Tôi nhìn chồng. Hai bên hiểu nhau không cần nói.

Chưa kịp hạ hết kính, anh đã “tặng quà năm mới” vào đúng chiếc túi tôi kịp đưa ra.

Phía trên là một túi đầy.

Phía dưới, thằng cu con giật mình tỉnh dậy vì mùi lạ, rồi lặp đi lặp lại như phát thanh viên:

“Con ỉa rồi… con ỉa rồi…”.

Tôi chỉ muốn độn thổ. Máu dồn lên não. Cỡ này cả năm không cần thuốc hoạt huyết. 

Tài xế lặng lẽ đeo khẩu trang. Mở hết cửa kính phía sau. 

Về đến nhà, tôi lo cho con ngủ trước.

Chồng thì nằm vật ra giường, vẫn cố vớt vát chút sĩ diện:

“Tại anh rối loạn tiêu hoá thôi…”.

Ừ, rối loạn tiêu hoá.

Chứ không phải 5 nhà, 5 loại rượu, và 5 câu “không uống là không nể anh”.

Tôi và cô em họ nhìn nhau. Không nói nhiều. Hai đứa dắt nhau ra ngoài ăn một bát bún bò Huế nóng hổi – coi như phần thưởng cho việc đã sống sót qua một buổi tối “trên nôn dưới ỉa”.

Tết vui thật.

Nhưng làm vợ, làm mẹ ngày Tết… đúng là một kỹ năng sinh tồn.

Tôi hỏi thật các chị em:

Vui xuân mà để vợ con xử lý hậu quả như thế thì có nên “giới hạn định mức rượu” từ năm sau không? Hay tôi đang quá khó tính?

Tết nhà mọi người thế nào? Có ai từng rơi vào cảnh “trên chồng: em ơi anh nôn, dưới mẹ ơi con ỉa” giống tôi không?

1️⃣ Văn hoá ngày Tết phải uống rượu 

👉 Có nên duy trì tư duy này không?

2️⃣ Trách nhiệm của người đàn ông có gia đình

👉 Vui xuân có nên đặt giới hạn?

3️⃣ Gánh nặng vô hình của mẹ bỉm

👉 Tết có thực sự là “kỳ nghỉ” với phụ nữ?

4️⃣ Ứng xử văn minh khi say

👉 Say không xấu. Nhưng say đến mức làm khổ người khác thì sao?



Hồn cốt hội Lim

Giữa rừng người mớ ba mớ bảy, giữa những mặt hoa da phấn đến mức chẳng còn phân biệt nổi đâu là liền chị “real”, đâu là “fake”, tôi đã có lúc thấy mình lạc lõng. Tiếng quan họ từ các đám hát của các làng trong hội vang lên qua loa, vỡ vụn trong thứ âm thanh chát chúa.

Vậy mà rồi, hai gương mặt ấy xuất hiện – mộc mạc, nền nã, như bước ra từ một miền ký ức cũ. Hai mẹ con cô gái miền quan họ. Chỉ cần một ánh nhìn thôi, tôi bỗng quên khuấy những ồn ào quanh mình. Giữa hội Lim năm 2026, khoảnh khắc ấy khiến tôi ngỡ như đang được quay về hội Lim thuở đầu thế kỷ, trong những khuôn hình đen trắng của nghệ sĩ Võ An Ninh – nơi vẻ đẹp quan họ còn nguyên sơ, không son phấn, không phô trương.

Thật may, giữa náo nức và xô bồ, vẫn còn những gương mặt giữ được hồn cốt. Như một sợi dây mảnh mà bền, níu người ta ở lại với niềm thương, với ký ức.

Năm nay, lần đầu tiên Hội Lim được cấp xã Tiên Du đứng ra tổ chức sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính. Có thể mọi thứ còn đang vào guồng, còn đôi chút chông chênh. Nhưng chỉ cần còn đó những liền anh, liền chị giữ được giọng ca và phong thái xưa, thì hội Lim vẫn sẽ còn hồn.

Cũng trong sáng 28/2, tại xã Tiên Du đã diễn ra Lễ đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Hội Lim.

Phát biểu tại lễ đón nhận, ông Mai Sơn - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Ninh nhấn mạnh, đây không chỉ là niềm vui, niềm tự hào của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai xã Tiên Du, Liên Bão, mà còn là niềm vinh dự chung của tỉnh Bắc Ninh – vùng đất Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ và lan tỏa những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam.







20 tháng 12, 2025

Những đôi giày mang năng lượng của bước chạy

Nhìn những đôi giày chạy đủ sắc màu, còn nguyên vẻ tươi mới do các runner quyên góp tập kết ở khu vực tiếp nước cho các runner cộng đồng chạy 365, tôi chợt thấy tim mình mềm lại. Chúng dường như đã tích tụ trong đó năng lượng tích cực của hàng trăm, hàng nghìn bước chân. Mỗi đôi giày là một hành trình, một câu chuyện, để rồi hôm nay được trao truyền cho những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, lang thang cơ nhỡ – như một lời nhắn nhủ thầm lặng: hãy tiếp tục bước về phía trước.

Đã thành thông lệ, mỗi năm một lần, vào buổi chạy trước dịp Noel, CLB Chạy 365 lại tổ chức quyên góp và trao tặng giày chạy từ cộng đồng Weekend Long Run cho các em nhỏ được bảo trợ bởi Blue Dragon. Những đôi giày ấy, từng cùng runner vượt nắng mưa, giờ tiếp tục một hành trình mới – hành trình của hy vọng, của sự tiếp sức và niềm tin vào tương lai.

Sáng nay, tôi hữu duyên có mặt trong buổi chạy hằng tuần do CLB khởi xướng từ năm 2014. Từ 5 giờ sáng, bờ Hồ đã rộn ràng tiếng nói cười. Nhóm tiếp nước và hỗ trợ runner có mặt từ 4 giờ 30, hối hả chuẩn bị từng chai nước phục vụ miễn phí cho tất cả những người tham gia buổi chạy cuối tuần. Trời lất phất mưa, độ ẩm cao nhưng trên môi không lúc nào ngớt nụ cười.

Hàng nghìn runner, ở mọi cấp độ, cùng hòa vào nhịp chạy quen thuộc. Chị Hạnh, Tuyết – những điều phối viên nhiệt tình – chia sẻ rằng sáng nay số lượng runner chỉ bằng khoảng một phần ba so với mọi khi, do nhiều người chuẩn bị di chuyển xuống Hải Phòng tham dự giải chạy Midnight. Tuyết cũng chỉ chạy dưỡng sức rồi lên đường chinh phục cự ly 42km vào ngày Chủ nhật.

Buổi chạy khép lại lúc 7 giờ sáng, nhưng nhiều nhóm vẫn còn quyến luyến nán lại, như chưa muốn rời khỏi nguồn năng lượng tích cực vừa được sẻ chia. Cuối tuần, vì thế, trở nên ý nghĩa hơn – không chỉ bởi những kilomet đã chạy, mà bởi những giá trị được trao đi. Từ những đôi giày nhỏ bé, một nét văn hóa đẹp đang lặng lẽ lan tỏa: văn hóa của sự tử tế, của cộng đồng và của những bước chân luôn hướng về phía trước.

Ai muốn được tiếp nguồn năng lượng tích cực này hãy đến bờ Hồ vào 5h sáng mỗi cuối tuần. Trạm tiếp nước ở ngay vỉa hè số 4 phố Lê Thái Tổ.








Nồi sắn luộc của dì út

Hơn ba mươi năm trước, hồi còn là sinh viên, thỉnh thoảng tôi mới có dịp lên Yên Bái thăm bà ngoại và các cậu, các dì. Nơi này không phải là quê ngoại của tôi. Đây vùng kinh tế mới bà đưa các cậu các dì đến đây để tìm cách thoát khỏi cái đói, cái nghèo.

Nhà bà cách trung tâm huyện chỉ hơn hai chục cây số. Ngày đó, từ Hà Nội đi tàu mất 7 tiếng,  qua đò sông Hồng rồi thêm nửa ngày trèo đèo lội suối xuyên rừng mới tới nơi. Ngày nắng thì đỡ, gặp ngày trời mưa phải đánh vật với đất đồi nhão nhoét, dính như keo, cực không tả được. Giờ từ Hà Nội lên chỉ mất hơn 2 giờ đồng hồ.

Dì út lấy chồng ở sát thị trấn, cách ga tàu vài cây số. Để có thêm nhiều thời gian, tôi thường chọn chuyến tàu đêm Hà Nội – Lào Cai, rời ga Trần Quý Cáp lúc 22 giờ 30. Đến khoảng 4 giờ 30 sáng hôm sau, tàu dừng ở ga Mậu A - một ga nhỏ, khách vắng, trời còn tối sẫm. Tàu vừa đi khỏi, cả ga lại chìm vào im lặng. Khi đó ở đây không xe ôm, không nhà nghỉ, chỉ chỉ có vài quán nước đốt đèn dầu hỏa đón khách tới ga chừng hai chục phút. Hầu hết khách xuống ga đều có người nhà đón. Khi khách rời đi hết, hàng quán lại tắt đèn, đóng cửa. Tôi đành ngồi ôm ba lô chờ sáng rồi đi bộ lên nhà dì. Lâu lâu mới có dịp lên, nên lần nào tôi cũng muốn ghé dì út trước khi vào nhà bà.

Nhà dì nằm trên lưng chừng đồi, cách đường tàu vài trăm mét. Từ sân nhìn xuống, những đoàn tàu hàng đen trũi trườn qua như con rắn dài. Trước khi khuất sau quả đồi, tiếng còi tàu vang lên một hồi dài. Không hiểu sao, nghe tiếng còi hú vang vọng nơi đồi núi nghe thật buồn.

Ngày đó dì mới lập gia đình, cuộc sống còn vất vả. Món ngon nhớ đời dì đãi các cháu buổi sớm tinh sương là nồi sắn luộc vừa dỡ ngoài vườn. Mảnh vườn trước sân chỉ trồng sắn, những thân sắn cao lêu nghêu, khẳng khiu, lá rụng để lại những nút sần trên thân. Trông cằn vậy mà nhổ củ nào cũng trắng bông, tròn lẳn, mập mạp như cổ tay trẻ con.

Được ăn sắn luộc sau một đêm vật vã ngồi tàu và nụ cười hiền lành của dì khi thấy các cháu mê món sắn trở thành ký ức mà từ đó về sau không có gì có thể so sánh.

Sau này, cuộc sống bớt khó khăn, chú dì cũng không ở căn nhà đó và trồng sắn nữa. Nhưng mỗi mùa đông đi giữa phố Hà Nội, gặp một gánh sắn luộc trắng ngần nghi ngút khói, tôi lại nhớ đến dì út, nhớ mảnh sân đồi lộng gió, nhớ những chuyến lên rừng thăm bà ngoại.

Chiều tối nay, ông bạn thời tóc để chỏm mang cho túi sắn vừa đào ở trang trại. Tận gần nửa đêm, hai vợ chồng mới lọ mọ lột vỏ, bắc bếp luộc sắn. Khi nồi sắn trắng bông bắt đầu tỏa hương khắp nhà, ký ức về nồi sắn luộc của dì út lại ùa về - rõ mồn một như tôi đang đứng trên sân đồi, nghe tiếng còi tàu vọng lại mênh mang.