Ông Phan Gia Minh có thâm niên hơn 20 năm chăm sóc
mộ phần của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Ban đầu chúng tôi không kỳ vọng gì khi ông Minh
nói sẽ giới thiệu về khu mộ phần của nhà thơ cho chúng tôi nghe.
Thế rồi, sau khi ông cất lời giới thiệu, chúng tôi
đã vội bật máy ghi lại, vì linh cảm ông sẽ là một hướng dẫn viên không chuyên
đầy sức hấp dẫn.
Clip dưới đây sẽ giới thiệu với mọi người bài
thuyết trình của một người hẳn phải rất yêu và trân trọng công việc mình đang
làm để khiến khu đồi Thi Nhân và đặc biệt là khu mộ phần của nhà Thơ Hàn Mặc Tử
tại khu du lịch Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thêm phần ấm áp
và ý nghĩa.
Sau khi dự lễ cầu nguyện cho các Thánh tử vì đạo ở nhà thờ chính toà Quy
Nhơn lúc 8g30, tôi thả bộ dọc đường Trần Hưng Đạo đến chùa Tổ đình Long Khánh ở
141 Trần Cao Vân.
Qua ngã tư Lê Lợi - Trần Hưng Đạo, nhác thấy bên vỉa hè, nép bên chiếc
cột điện có một chiếc bàn nhỏ, trên đó có vài tờ báo sắp ngay ngắn. Mỗi tờ chặn
bằng một viên đá tránh bị gió thổi bay. Mấy hôm tới Quy Nhơn, tôi tranh thủ
lượn khắp nhưng hầu như không nhìn thấy sạp báo giấy nào trên hè phố.
Gọi là sạp báo nhưng lúc tôi đến chỉ còn 1 tờ Bình Định, 1 tờ An ninh
thế giới, 1 tờ Tuổi Trẻ cười, 2 tờ An ninh thế giới cuối tháng - tháng 10 và
tháng 11.
Một phụ nữ ngồi sau chiếc bàn nhỏ. Khuôn mặt giấu dưới vành mũ rộng màu
xanh và đeo khẩu trang nên tôi không đoán được tuổi. Tôi quay lại hỏi mua mấy
tờ báo. Trong lúc mua tôi tranh thủ nói chuyện.
Lúc đầu chị rất dè dặt. Nhưng khi nhìn thấy chiếc huy hiệu Báo Tiền
Phong tôi đeo trên ngực và biết tôi làm việc ở Tiền Phong chị trở nên cởi mở.
“Chị cũng thích tờ Tiền Phong lắm. Bán cũng được nhưng Tiền Phong về đây chậm
quá. Thường sau một ngày báo mới về nên chị không lấy bán nữa. Nếu báo về đúng
kỳ chị lại lấy để bán”. Chị Hiển nói chị còn bán cả Thanh niên, Tuổi Trẻ nhưng
hai tờ đó bán hết rồi.
Tôi hỏi tên chị. Vì âm vực địa phương nên nghe 3 lần tôi vẫn không ghép
vần được. Phải đến khi chị nói “Tên chị là Hởin, Hởin trongg Hởin Vinh” - thì
tôi mới viết đúng chữ Hiển - Võ Thị Hiển.
Chị Hiển mở sạp bán báo được gần 20 năm. Hằng ngày chị Hiển đến đại lý
lấy báo sớm để đúng 5 giờ thì mở hàng. Chị bán đến đúng 9 giờ thì nghỉ.
Sáng nay, tôi là vị khách cuối cùng trước khi chị thu sạp.
Nhà thờ chính toà Quy Nhơn toạ lạc tại 122 Trần
Hưng Đạo, phường Hải Cảng, thành phố Quy Nhơn, Bình Định, còn được gọi với tên
nôm là Nhà thờ Nhọn bởi hình dáng đặc biệt ấn tượng của tháp chuông tại thiết
chế tôn giáo này.
Đứng trên tháp chuông nhà thờ chính toà Quy Nhơn -
toà thánh Đức mẹ Mân Côi có thể nhìn bao quát 360 độ đầm Thị Nại và vịnh Quy
Nhơn.
Trên tháp chuông cao 47,20m, có khối 3 quả chuông,
trong đó một quả chuông có trọng lượng 1.800 kg treo ở độ cao 25 mét.
Nhà thờ kiến trúc hình thánh giá, dài 57,50 mét,
rộng 22,60 mét, hai hàng cột đúc ximăng cốt thép, phân nhà thờ ra ba gian. Gian
chính giữa rộng 8 mét, cung thánh rộng 8 mét, dài 14,50 mét. Sau cung thánh có
5 bàn thờ phụ. Nhà thờ có thể dung nạp đến 1.500 người.
Một công trình đồ sộ như vậy nhưng được hoàn thành
vỏn vẹn trong 13 tháng 10 ngày. Khởi công ngày 1/10/1938 hoàn thành ngày
10/11/1939. Lễ khánh thành ngày 10/12/1939 và kính dâng Đức Mẹ Mân Côi.
Theo các tài liệu ghi chép lại, ngày 23/02/1962,
quả chuông lớn nặng 1.800kg, đường kính 1,25m đã được đặt lên tháp nhà thờ trên
độ cao 25m. Quả chuông này nguyên là của nhà thờ Saint Pancratius ở Chicago do
cha Robert Niec phụ trách. Với ý hướng hòa bình và tình hữu nghị, cha Robert
Niec dâng cúng quả chuông này qua trung gian ông John Grozdiak, một kỹ sư người
Hoa Kỳ đã quen biết Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi - một trong các đức cha
điều hành giáo phận Quy Nhơn từ nhiều năm trước. Quả chuông được chở trên chiếc
tàu ‘Sainte Mère Eglise’ và cập bến Sài Gòn ngày 27/01/1962, đưa về tới Quy
Nhơn ngày 14/02/1962.
Một bảo vật nữa được lưu giữ ttong thánh đường là
bàn thờ bằng khối hồng thạch dài 3m, rộng 1,10m, cao 1m, có hình dáng hòm bia
thánh với hai chân tròn vững chắc được đặt ở cung thánh. Bàn thờ này được khởi
công khai thác đá tại Non Nước, Đà Nẵng từ cuối năm 1962, mang về an vị tại đây
năm 1963.
Một trong 2 khối tháp trong quần thể tháp Hưng Thạnh (còn gọi là Tháp Đôi) ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định có một bệ thờ thần Shiva theo tín ngưỡng của dân tộc Chăm rất hoàn chỉnh.
Kết hợp với Linga và Yoni là biểu hiện đặc tính âm của thần Shiva. Linga kết hợp với Yoni tạo nên một bệ thờ hoàn chỉnh được coi là sự hòa nhập âm dương. Yoni có thể được khắc tạc liền khối với Linga, hoặc có thể khắc tạc riêng lẻ gá lắp với Linga. Yoni thường được chế tác hình vuông hay hình tròn, có vòi dẫn nước vươn ra, lòng thường trũng để khi làm lễ nghi tôn giáo, nước tắm Linga được dẫn qua Yoni chảy ra vòi trở thành nước thiêng, uống nước này người Chăm quan niệm sẽ được nhiều phúc lộc may mắn, con cháu đầy đàn... Bộ ngẫu tượng Linga-Yoni có kích thước nhỏ thường được đặt thờ trong lòng tháp, tượng lớn thì đặt ở ngoài sân, nhưng vòi Yoni bao giờ cũng quay về hướng Bắc. Khi hành tế, giáo sĩ Balamôn làm lễ xong, đi vòng từ phải sang trái (ngược chiều kim đồng hồ) lấy nước thiêng hứng từ vòi Yoni chảy ra ban phát cho tín đồ.
Tháp Đôi được xác định xây dựng trong khoảng thời gian từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIII.
Có rất ít người đến chiêm ngưỡng di tích này biết rằng, trong lòng Tháp Đôi là một bệ thờ phục chế.
Theo bản vẽ của H.Parmentier thực hiện vào những năm đầu thế kỷ XX, khi ông nghiên cứu tại di tích Tháp Đôi (Quy Nhơn), lúc đó trong ngôi tháp Bắc có một bệ thờ Linga-Yoni cao 2,1m; phần Linga cao 0,5m; Yoni hình tròn-đường kính 1,3m; dày 0,20m; vòi Yoni dài 0,35m. Từ bản vẽ này, Ban Quản lý di tích Bình Định đã phục chế theo tỉ lệ 1/1 một tượng thờ Linga-Yoni bằng đá tương tự đặt thờ trong ngôi tháp này.
Henri Parmentier (1871 - 1949) là một nhà khảo cổ học người Pháp, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa Chăm Pa cổ xưa. Ông góp phần quan trọng trong việc thu thập, bảo tồn những hiện vật thuộc nền văn hóa người Chăm tại Mỹ Sơn và phục hồi các di tích Angkor ở Cao Miên.
Hiện vẫn chưa thấy có tài liệu ghi chép thông tin nguyên mẫu của bệ thờ thần Shiva của Tháp Đôi đang ở đâu - và đây vẫn đang là điều bí ẩn.
Người Đà Lạt
làm quán cà phê như để chơi. Không phô trương. Khách đến những không gian này
là dường như chỉ để có một quãng nghỉ cho tâm hồn. Bởi vậy, kể cả không biển
báo, kể cả phải đi bộ một đoạn dài trên con đường độc đạo, người ta cũng tìm. Kiểu
“yêu nhau chỉ vì yêu nhau”.
1. 1. Rẫy nhà Tí nằm kế bên con đường đỉnh đèo Mimosa.
Cách trung tâm Đà Lạt chừng 5 cây số. Rẫy trồng hồng và cà phê Arabia, cây nào
cũng sai trĩu chịt. Một nửa đất cho người ta thuê mở quán cà phê nhỏ ở cuối rẫy.
Một cái quán cà phê có cái tên dài “Bao tiền một mớ bình yên”.
Con đường chỉ 1 lượt đi từ trên quốc lộ dẫn xuống bãi để xe
dốc đến độ chỉ nhìn thôi đã “tởn”.
Không có ai trong đoàn dám mạo hiểm đưa xe xuống bãi. Thế mà cậu nhân viên trẻ
măng cưỡi từng chiếc xe máy đi xuống dốc và lên dốc giúp khách với vẻ mặt tươi
cười bình tĩnh đến lạ.
Ngoài đường,
không có bất cứ biển hiệu quán cà phê nào trừ một cái biển gỗ nhỏ treo ở thân
cây ngay dốc xuống “Mơ trong mơ”, phía dưới có một cái biển khác “Nếu sợ dốc
xin gọi số 09…”.
Lúc đến, chả
ai nghĩ ở cuối con đường độc đạo dài vài trăm mét lại có một quán cà phê và một
chiếc thác nhỏ chảy từ rừng thông quanh năm ngày tháng nước reo. Hai bên đường
vào, cà phê đang mùa làm hạt. Thỉnh thoảng có những chùm chín đỏ, với tay hái
đưa vào miệng, cùi ngọt thơm như cherry. Khác với hồng Mộc Châu khi quả chín lá
rụng hết chỉ còn những quả hồng đỏ au dính trên cành khẳng khiu mốc thếch,vườn hồng nhà Tí đang chính vụ quả chín đỏ lấp
ló trong vòm lá.
2. 2. Điểm tương đồng này cũng tìm thấy ở
Cala Lily Đà Lạt trên đường Hàn Thuyên, phường 5 thành phố Đà Lạt. Đến đây, nhớ
gặp ông chủ trẻ của quán. Một con người đầy năng lượng tích cực hiếm có.
Trung – hơn
30 tuổi. Quê Thủ Thừa, Long An. Tuổi trẻ của Trung là những chuyến khám phá các
vùng đất trong nước và nhiều châu lục. Trung từng đến châu Phi với hai bàn tay
trắng từ sự thôi thúc sau khi xem bộ phim “Đến thượng đế cũng phải cười”. Trung
nói đùa “Bác Hồ đi được sao tụi em không đi được”.
Nhiều người
đến Đà Lạt khởi nghiệp nhưng không phải ai cũng trụ lại. Trung tự hào nói “Đà Lạt
chọn em”. Vừa sản xuất cà phê, vừa tiêu thụ giới thiệu sản phẩm qua hệ thống
quán cà phê tự mình làm chủ, với một người miền Tây, để có được trình độ thẩm
cà phê biết được sản phẩm trồng ở vùng nào, giống nào đủ để minh chứng cho câu
slogan của Trung “Đà Lạtchọn em”.
Quán cà phê
của Trung có một bếp bánh, Trung nói, bánh được làm theo cảm xúc. Bởi vậy, đến
đây không phải lúc nào cũng oder được món bánh lần trước bạn đến và thích.
Cala Lily
Đà Lạt nằm trên lưng một quả đồi chả có biển báo gì sất. Đến chân đồi, người
dân ở đây thấy khách lơ ngơ thì liền hỏi “Tìm quán cà phê phải không?”, rồi tận
tình chỉ đường. Đến được đây phải xe máy phải leo qua một cái dốc mà khi xuống,
ông chủ quán thường phải hỏi có ai muốn giúp đi xe hộ xuống dốc không? Vậy mà hầu
như lúc nào quán cùng đầy khách là các bạn trẻ từ khắp mọi miền khi tới Đà Lạt
đến thưởng thức những ly cà phê không chê vào đâu được.
Trung cũng
chính là chủ nhân ngôi nhà Gió trên đỉnh một đồi thông cực đẹp ở gần Puppy
Farm. Đây là ngôi nhà Trung mời mọi người đến Đà Lạt có thể qua ở miễn phí. Ý
tưởng này bắt nguồn từ những chuyến đi khám phá khắp thế giới. Trong những chuyến
đi đó Trung nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của mọi người. Quay về Đà Lạt Trung
muốn san sẻ điều này với những ai yêu và đến khám phá vùng đất cao nguyên.
Một người bạn là họa sĩ cùng lên Đà Lạt chơi, trước khi về
Phan Rang đội mưa đến The Yellow Chair sau đó anh nhắn tin lại cho đội ham
chơi: “Nhất định phải đến đây nhé”. Rồi gửi định vị.
Vượt qua những con dốc rất Đà Lạt những ai lần đầu tiên đến
hẳn sẽ hơi bối rối khi đứng trong khuôn viên một khu biệt thự kiến trúc khá đẹp
bởi không gian The Yellow Chair nằm giấu mình bên một sườn đồi. Mạnh dạn đẩy
cánh cửa sơn màu trắng, sau tiếng chuông khẽ reo làchiếc view toàn cảnh nhìn ra một thung lũng
nhỏ. Dưới đó có vườn rau xanh mướt với những luống rau xinh xắn.
Một phụ nữ nhỏ nhắn có mái tóc được chăm sóc cẩn thận pha cà
phê cho chúng tôi. Lúc sau mới biết đó là Hạnh – chủ nhân của không gian The
Yellow Chair.Sáu năm trước, Hạnh và chồng
người Hàn Quốc rời Sài Gòn lên Đà Lạt chọn mua mảnh đất 4.000 mét vuông này. Hạnh
người Buôn Mê Thuột, lớn lên với rẫy cà phê của ba. Khi làm đồ án tốt nghiệp đại
học ngành ngoại thương, Hạnh chọn cây cà phê làm đối tượng nghiên cứu. Sự mộc mạc
trong việc sử dụng những kiến thức quan sát từ ba cô trong việc chăm sóc cây cà
phê đã khiến hội đồng ngạc nhiên và đánh giá cao. Sau này, cô tiếp tục phát triển
sản phẩm cà phê xuất khẩu sang các thị trường nhiều nơi trên thế giới. Trong
quá trình này, Hạnh kết hợp với các chuyên gia của trường Đại học Y Dược Buôn
Mê Thuột, nghiên cứu sử dụng con men để chế biến cà phê honey. Đây là phương
pháp chế biến thân thiện môi trường, hạn chế chất thải, nước thải và làm cho
giá trị hạt cà phê thương phẩm của Hạnh được bạn hàng đánh giá cao.
Sản xuất cà phê làm thương mại thì thì sành sỏi nhưng đến
khi mở không gian The Yellow Chair, Hạnh mất hàng tháng liên tục tập pha cà phê
đến chuẩn. Lúc đó, mỗi ngày, bã cà phê phải tính hàng yến. Một người bạn là
chuyên gia trong lĩnh vực pha chế hướng dẫn Hạnh đã lắc đầu “Bà học thế này tôi
hết sách dạy rồi”.
Ngay sau cánh cửa màu trắng phía trên có dòng chữ The Yellow
Chair là một không gian trưng bày đậm chất vintage. Góc này là những chiếc ghế
sưu tầm từ Pháp. Góc kia lại là chiếc tủ khảm xà cừ hay chạm khắc, rất hợp lý.
Những cảm giác thu hút thị giác của khách có lẽ là bí quyết để anh bạn họa sĩ
có gu của chúng tôi phải nhắn tin dặn dò rành rẽ như vậy. Đem những cảm giác
này chia sẻ với Hạnh mới biết chồng Hạnh là một kiến trúc sư nội thất. Tự tay
anh ấy chọn lựa từng món đồ đặt vào từng góc. Trong lúc ngồi thưởng thức cà phê
trong tiếng nhạc du dương, tôi flex vài tấm hình. Một người bạn ở Sài Gòn nhắn
tin “Anh đang ngồi ở quán của ông chủ hãng Kim Chi Kim nổi tiếng ở Sài Gòn
đó!”. Khi xây dựng khu biệt thự này, Hạnh mời thợ từ Sa Pa thi công kỹ thuật xếp
đá để không phải sử dụng xi măng. Những bờ tường xếp đá theo kỹ thuật của người
dân tộc Mông sau một thời gian được lấp đầy bằng chất kết dính tự nhiên là đất
đồi Đà Lạt. Vừa vững chắc lại vừa thoát nước tốt trên địa hình có độ dốc lớn
nơi đây.
Lên Đà Lạt, có mấy ngày, thế mà The Yellow Chair được dành hẳn
trọn vẹn một buổi sáng. Trong lúc đội cao niên uống cà phê thì đội trẻ lại say
sưa với đàn chó rất thân thiện mặc dù toàn giống chó có số má. Trong đó, mấy
con Jindo – giống chó săn nổi tiếng của Hàn Quốc lông trắng mũi hồng bắt chim
như thần và một chú Border Collie- đang nuôi bầy con nhỏ. Lúc chia tay, Tôm và
Tép còn được cô Hạnh tặng một chú chó con. Cô Hạnh nói chờ cô tiêm nốt cho bé
mũi cuối cùng rồi sẽ gửi máy bay ra Hà Nội. Một món quà thật đặc biệt cho chuyến
đi lần này.
Cách quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hồ
Gươm chừng vài chục bước chân là quán cà phê phố cổ ở số 11 Hàng Gai.
Người Hà Nội, hoặc sống lâu ở Hà Nội chưa
chắc đã biết chỗ này. Một địa điểm ngắm Hồ Gươm từ trên cao khá đẹp. Khách ngoại
quốc vào đây nhiều lắm nha. Bọn Tây được cái hay là khi chúng đến một nơi thú vị,
chúng sẽ mách cho nhau.
Cái biển Café PHỐ CỔ bé tẹo lẫn trong cái
biển quảng cáo bán hàng màu đỏ nhức nhối to đùng ở mặt phố ắt khiến người đến
đây lần đầu ngại ngần. Không sao đâu, cứ mạnh dạn vào bên trong, theo hành lang
chừng dăm mét là sẽ vào không gian Hà Nội rất đặc biệt.
Quán cà phê vốn là căn nhà có 105 tuổi đời.
Những người mở quán là thế hệ thứ 5 sinh sống ở đây. Đến nay quán đã tồn tại được
25 năm và trở thành một địa chỉ văn hóa hấp dẫn. Đồ uống của quán đa dạng nhưng
có vẻ cà phê trứng là ổn nhất. Bù lại, bạn sẽ được hưởng trọn vẹn một không
gian văn hóa của một gia đình trung lưu của Hà Nội xưa và giá cả đồ uống phải
chăng.
Dù trải qua hơn 100 năm, cấu trúc ngôi nhà
vẫn được giữ nguyên. Trong nhà còn lưu giữ được nhiều đồ cổ, hoành phi câu đối...
Ngôi nhà được kiến trúc theo lối nhà phố cổ truyền, chia làm ba không gian gồm:
gian chính, giữa và gian sau. Có một bộ cánh cửa tuyệt đẹp trên tầng 2. Giữa
sân có một bụi tre lớn tạo cảm giác rất lạ. Tầng thượng của căn nhà, được cải tạo
thành một không gian cà phê, ở đây, ban ngày hay buổi tối đều có thể phóng tầm
mắt ngắm trọn vẹn hồ Gươm và Tháp Rùa.